Lấy chuẩn tiến sĩ, siết quy mô tuyển sinh để nâng chất đào tạo
Bộ GD&ĐT vừa công bố dự thảo thông tư quy định việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh để lấy ý kiến đến giữa tháng 2. So với quy định hiện hành, dự thảo đưa ra nhiều thay đổi theo hướng siết chặt điều kiện mở rộng quy mô đào tạo.
Điểm mới đáng chú ý là quy định hệ số quy đổi giảng viên theo trình độ khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Theo đó, giảng viên có trình độ tiến sĩ được lấy làm mốc chuẩn với hệ số 1. Trong khi đó, hệ số quy đổi của giảng viên trình độ thạc sĩ và đại học giảm mạnh so với trước: giảng viên thạc sĩ từ 1,5 xuống còn 0,5; giảng viên trình độ đại học từ 1 xuống còn 0,2.
Điều này đồng nghĩa nếu muốn giữ nguyên hoặc tăng chỉ tiêu tuyển sinh, các trường phải gia tăng tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ.
Điểm mới đáng chú ý là quy định hệ số quy đổi giảng viên theo trình độ khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh (ảnh minh họa) |
Dự thảo cũng quy định chỉ tiêu tuyển sinh được xác định theo từng ngành đối với trình độ tiến sĩ và trình độ đại học ở các ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe, pháp luật và các ngành mới mở; các ngành còn lại có thể xác định theo lĩnh vực.
So với thông tư hiện hành ban hành năm 2022 và điều chỉnh năm 2023, cách tiếp cận mới cho thấy xu hướng coi trọng đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ và siết điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo.
Theo PGS Đặng Hồng Sơn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, việc điều chỉnh quy định xác định chỉ tiêu tuyển sinh cần đặt trong tổng thể chính sách nâng cao chất lượng giáo dục đại học, gắn quy mô đào tạo với điều kiện bảo đảm chất lượng của từng cơ sở.
Ông cho biết nhà trường ủng hộ dự kiến quy định giảng viên trình độ tiến sĩ làm chuẩn (hệ số 1) để các trường tự xác định chỉ tiêu. Hiện tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ của trường đạt khoảng 82–85%, trong đó giáo sư và phó giáo sư chiếm khoảng 25%, với tổng số giảng viên gần 400 người. Theo ông, yêu cầu đầu ra đào tạo tiến sĩ trong hệ thống ĐH Quốc gia Hà Nội cao hơn quy định chung, như yêu cầu có hai bài báo quốc tế với vai trò tác giả chính hoặc tác giả liên hệ, nên phần nào ảnh hưởng tới quy mô tuyển sinh thực tế so với năng lực đào tạo.
Về tác động chung, ông Sơn cho rằng với các cơ sở có điều kiện bảo đảm chất lượng tốt thì không phải trở ngại lớn, nhưng ở tầm vĩ mô cần thêm dữ liệu để đánh giá biến động tổng chỉ tiêu toàn quốc. Đây cũng là thời điểm phù hợp để các trường rà soát lại hoạt động đào tạo theo hướng thực chất và sát nhu cầu nhân lực.
“Đây không chỉ là việc xác định chỉ tiêu mà còn liên quan đến việc sắp xếp lại giáo dục đại học, để hệ thống không còn tình trạng manh mún, phân lẻ. Mỗi cơ sở đã mang sứ mệnh khác nhau thì cần thực hiện đúng sứ mệnh của mình”, PGS Đặng Hồng Sơn nói.
TS Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH FPT, nhận định nếu nhìn ở khía cạnh tích cực, dự thảo sẽ thúc đẩy mặt bằng chung trình độ giảng viên đại học theo hướng chuẩn tiến sĩ, dù luật hiện hành yêu cầu thấp hơn. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo nguy cơ xuất hiện xu hướng chạy theo bằng cấp hình thức nếu không kiểm soát tốt chất lượng thực chất.
Không được tăng chỉ tiêu nếu nhiều sinh viên bỏ học, khó tìm việc
Một thay đổi quan trọng khác là đơn vị xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Nếu quy định hiện hành chủ yếu xác định theo lĩnh vực đào tạo, dự thảo mới thu hẹp phạm vi này và mở rộng các trường hợp phải xác định theo từng ngành.
Ngoài khối ngành đào tạo giáo viên, sức khỏe và ngành mới mở, dự thảo bổ sung lĩnh vực pháp luật và toàn bộ chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ phải xác định chỉ tiêu theo ngành cụ thể. Cách làm này giúp cơ quan quản lý kiểm soát sát hơn năng lực đào tạo theo từng ngành thay vì bình quân theo nhóm rộng.
Dự thảo cũng bổ sung các “rào cản kỹ thuật” khi xét tăng chỉ tiêu tuyển sinh. Theo đó, cơ sở đào tạo không được tăng chỉ tiêu nếu tỷ lệ sinh viên thôi học sau năm thứ nhất vượt quá 15% hoặc tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với trình độ đào tạo dưới 70% trong vòng 12 tháng.
|
Trước đây, quy định yêu cầu tỷ lệ có việc làm chung không thấp hơn 80% nhưng không bắt buộc phù hợp ngành đào tạo. Điểm mới lần này nhấn mạnh yếu tố việc làm đúng chuyên môn nhằm phản ánh sát hơn hiệu quả đầu ra của chương trình đào tạo.
Hiện nay, tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp chủ yếu do các trường tự khảo sát và công bố, phần lớn ở mức 80–100%, song không phải báo cáo nào cũng nêu rõ tỷ lệ việc làm đúng ngành hoặc tỷ lệ phản hồi khảo sát. Về cơ sở vật chất, dự thảo vẫn giữ định mức diện tích sàn tối thiểu không nhỏ hơn 2,8 m² cho mỗi người học quy đổi, nhưng thay đổi cách tính số người học.
Nếu trước đây chủ yếu tính trên sinh viên đại học, cao đẳng chính quy, dự thảo mới yêu cầu tính trên tổng số người học trực tiếp quy đổi, bao gồm cả học viên thạc sĩ và nghiên cứu sinh tiến sĩ. Nhóm sau đại học được nhân hệ số cao hơn (thạc sĩ hệ số 1,5; tiến sĩ hệ số 2). Điều này khiến số người học quy đổi tăng đáng kể, kéo theo yêu cầu diện tích sàn lớn hơn nếu các trường muốn giữ nguyên quy mô tuyển sinh.
Dự thảo cũng đề xuất áp chỉ tiêu tuyển sinh riêng cho trụ sở chính và từng phân hiệu; cho phép tính giảng viên đồng cơ hữu khi xác định chỉ tiêu. Số lượng thí sinh nhập học thực tế được phép vượt chỉ tiêu tối đa 5% với trình độ đại học và 20% với trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, với điều kiện vẫn bảo đảm năng lực đào tạo.
Về quy định tuyển vượt chỉ tiêu, một số ý kiến cho rằng nội dung này khó khả thi nếu các quy định xử phạt hiện hành không được điều chỉnh. Theo Nghị định 04/2021/NĐ-CP và các dự thảo sửa đổi, trường đại học tuyển sinh vượt từ 3% so với chỉ tiêu xác định đã có thể bị xử phạt hành chính. Nghị định do Chính phủ ban hành có hiệu lực pháp lý cao hơn thông tư của Bộ, nên thông tư không có hiệu lực điều chỉnh nội dung này.
Tác giả: Thu Hằng
Nguồn tin: VOV.VN
