Mọi thứ giản dị, bình yên đến mức khó ai nghĩ rằng, nơi đây lại là chốn đi về của một người đã từng đi qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với những chiến công lẫy lừng của lực lượng pháo cao xạ Quân khu 4. Bên trong căn nhà, những tấm bằng khen, huân chương, ảnh kỷ niệm được treo kín tường như những dấu tích của một thời lửa đạn.
Anh hùng LLVT nhân dân Đỗ Văn Chuyền (ngồi giữa). |
Anh hùng LLVT nhân dân Đỗ Văn Chuyền năm nay tròn 80 tuổi, mái tóc bạc trắng, đôi mắt đã vẩn đục vì thời gian, nhưng khi nhắc đến những năm tháng trên chiến trường, ánh mắt ấy bỗng sáng lên, giọng nói rõ ràng và mạch lạc. Ông nhập ngũ tháng 9-1965 vào Trung đoàn 218, Quân khu 4. Khi nhập ngũ, Đỗ Văn Chuyền cũng như bao thanh niên khác, chỉ được huấn luyện 15-20 ngày, học xong “10 lời thề” là lên đường và vừa chiến đấu vừa huấn luyện. Ngày đó ông rất khỏe, đào công sự cho mình xong là đào tiếp cho đồng đội, bao nhiêu việc nặng nhọc trong trung đội, ông luôn giành về mình nên được mọi người yêu mến. Chỉ sau 3 tháng nhập ngũ, ông đã được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba. “Ngày đó học bảng bắn 12,7mm, hai ngày là thuộc lòng”, anh hùng Đỗ Văn Chuyền cười nhẹ.
Nhưng đằng sau cái “thuộc lòng” ấy là những đêm không ngủ, là áp lực sinh tử luôn rình rập. Ông kể, tại đèo Phà Ròn (gần đèo Ngang, thuộc tỉnh Quảng Bình cũ, nay là tỉnh Quảng Trị), nhiều đêm báo động tới 60-70 lần. Hễ có máy bay địch là anh em lại lao ra trận địa. Đang ăn cơm, bom giội xuống, cát bụi bay mịt mù, phải gạt cát đi mà ăn tiếp. Có tháng chỉ ngủ được khoảng 6-7 hôm... Trưởng thành từ pháo thủ số 2 đến khẩu đội trưởng pháo cao xạ 37mm thuộc Đại đội 43, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 218, ông tham gia gần 300 trận đánh, rất nhiều trận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong mưa bom bão đạn, nhiều lần bị thương, ông vẫn kiên cường bám trận địa, trực tiếp chỉ huy chiến đấu, góp phần bắn rơi và bắn bị thương nhiều máy bay địch. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, năm 1970, ông vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.
Ngồi trước người anh hùng năm xưa, tôi hỏi một câu mà có lẽ ai cũng muốn biết: “Ngày đó, bác có sợ không?”. Ông cười, một nụ cười hiền hậu nhưng sâu lắng: “Có chứ, sợ chết, sợ đau chứ. Ai mà không sợ. Nhưng lúc đó chỉ căm thù giặc, chỉ nghĩ đến đồng đội, nghĩ đến ngày mai hòa bình... thế là lại chiến đấu thôi”. Câu trả lời giản dị ấy khiến tôi lặng đi. Hóa ra, phía sau những chiến công là một con người rất thật, vẫn biết sợ, vẫn biết đau. Ông nhớ những năm tháng ở Vĩnh Linh, đó là những ngày “ở lại là chết”, nhưng ai cũng xung phong ở lại. Máy bay địch gầm rú trên đầu, pháo từ biển bắn vào, từ Cồn Tiên, Dốc Miếu câu sang, bộ binh địch càn quét trận địa. Bom napalm, bom bi trút xuống như muốn xóa sổ tất cả. “Ngày đó đạn cao xạ của ta khan hiếm. Một xe đạn chở đến, chúng tôi đánh được hai tiếng là hết nên phải bình tĩnh, ngắm bắn thật chính xác, không được bắn bừa. Bom nổ sát bên, đất đá văng vào người, vẫn không rời vị trí. Có đồng chí bị cụt chân vẫn tiếp tục chiến đấu. Bị thương cũng không băng ngay, phải đánh xong trận đã”, anh hùng Đỗ Văn Chuyền kể.
Ông kể tiếp, khi đơn vị vượt sông, tiền bạc đều cho dân hết, bởi lúc đó, không ai nghĩ sẽ trở về. Lần đơn vị bị bao vây tại điểm cao 300 Lèn Đá (Quảng Trị), tình thế vô cùng nguy cấp, ông nói với chính trị viên một câu mà đến giờ nhắc lại, giọng vẫn run: “Chính trị viên yên tâm, chúng tôi luôn giữ cho mình một quả lựu đạn, không bao giờ để chúng bắt sống”. Nói đến đó, ông im lặng, đôi mắt nhòe đi. Tôi cũng không kìm được cảm xúc. Trong khoảnh khắc ấy, chiến tranh như không còn là câu chuyện của quá khứ, mà hiện hữu ngay trước mắt.
Ngồi nghe Anh hùng LLVT nhân dân Đỗ Văn Chuyền kể chuyện đánh Mỹ trong những ngày tháng Tư lịch sử, tôi càng thấm thía những gì đất nước ta đã phải đánh đổi để có được cuộc sống hôm nay. Điều tôi mang về không chỉ là tư liệu cho một bài viết, mà là một nỗi xúc động sâu xa về con người, về chiến tranh và về giá trị của hòa bình hôm nay.
Tác giả: Nguyễn Cảnh
Nguồn tin: qdnd.vn
